Lịch sử Giáo Hội 6
DIE GESCHICHTE DER KIRCHE IN 100 REPORTAGEN
Tác giả : Josef Holzer
Người dịch : Đinh Phan Cư
Phạm Hồng-Lam
TRÌNH THUẬT 10
MỘT ĐẾ-QUỐC HOÀN-VŨ SUY TÀN
MỘT NGƯỜI ĐỨC LÊN NGÔI HOÀNG-ĐẾ RÔ-MA
Trong tỉnh Noricum thuộc Đế-quốc Rô-ma, ngày nay là vùng bắc Áo, từ lâu nay xuất-hiện thầy tu tên là Sê-vê-rin. Ông tới từ phương đông, nhưng không ai biết rõ từ đâu. Ông ra tay giúp đỡ dân chúng trong vùng gặp khó-khăn vì những đợt di-cư lớn. Nhiều người tìm tới để được an-ủi hoặc xin lời cầu-nguyện. "Trong số những người tới có cả Odovacar (Odoaker), một thanh-niên cao lớn, nghèo xơ", theo lời kể của Eugippius, một người đương thời, "Anh ta vừa khom lưng cúi đầu để khỏi đụng trần lều vừa nghe vị tu-hành nói về tương-lai sáng-lạn của mình. Trước khi từ-giã, thầy tu nói với anh: 'Hãy tới Ý, đi đi ! Nay anh còn phải ăn-bận rách-rưới, nhưng mai đây anh sẽ giàu-có." Chuyện xẩy ra tại Favianis, có lẽ ở Mautern gần Krems (Áo).
Odoaker là con một sứ-thần của Attila trong cung hoàng-đế Theodosius II. Sau khi cha mất, chàng Odoaker 36 tuổi sống đời lang-thang cùng với đồng-bào German ở Noricum, cho đến khi nghe Sê-vê-rin tiên báo về cuộc đổi đời của mình. Odoaker đi Ý, vào phục-vụ trong cung Đế-quốc Rô-ma Phía Tây và chẳng bao lâu được cử làm chỉ-huy trưởng đạo quân hậu-cần người Đức ở Ý, và đạo-quân này đã tôn anh lên làm vua. Năm 476 Odoaker hất Romulus, hoàng-đế cuối cùng của Đế-quốc Rô-ma Phía Tây, khỏi ngai và đuổi về hưu. Romulus, cũng trùng tên với vị sáng-lập thành Rô-ma, chỉ được cái "điển trai" và quá trẻ nên được người ta gọi là "Augustulus" ("Ông hoàng con").
Trong khi Đế-quốc Rô-ma Phía Đông còn cầm-cự được cho tới năm 1453 (sụp-đổ khi bị người hồi giáo Thổ-nhĩ-kì chiếm Kon-stan-ti-nôp), Đế-quốc Phía Tây bị anh người Đức Odoaker đảo-chánh không tốn một giọt máu vào thế-kỉ thứ năm.
Vì Odoaker chấp-nhận ưu-quyền của Đế-quốc Phía Đông nên ông trị-vì ở Ý với tư-cách chính-thức là"Chỉ-huy trưởng quân-đội hoàng-đế ở Ý". Ông cũng nhận mình chỉ là "vua" mà thôi. Nhớ lại công-ơn tiên-tri trước đây, Odoaker liền viết cho Sê-vê-rin một lá thư, trong đó "cho phép" vị tu-sĩ muốn bất-cứ gì thì cứ nói cho ông biết.
Với trí thông-minh, Odoaker đã nỗ-lực xoa dịu thảm-cảnh bần-cùng của dân Ý và đưa Đế-quốc Phía Tây vào một bước đường mới.
Việc sụp-đổ của Đế-quốc Phía Tây đặt ra cho chúng ta câu hỏi, vì đâu một đế-quốc hoàn-vũ lại có thể dễ-dàng tiêu-vong như thế.
Nguyên-nhân sâu-xa
Cuộc xâm-chiếm của người Đức không hẳn là nguyên-nhân suy tàn của Đế-quốc, nhưng đây là hậu-quả của một nhà-nước đã phá-sản vì những nguyên-nhân sâu-xa hơn, có thể nêu lên như sau: Phong-hoá suy-đồi, kinh-tế lụn-bại, chuyên-quyền bàn giấy, quân-đội hèn-kém, thiếu dân, sưu thuế nặng, dân bỏ thôn làng, thiếu quan-tâm chính-trị, chính-quyền phung-phí và chính-sách kì-thị dân thiểu-số.
Dân Đức "không đùa với chuyện truỵ-lạc"
Ngay từ thời hoàng-đế Septimius Severus (193-211) người ta đã phàn-nàn chuyện thiếu dân trầm-trọng trong Đế-quốc. Lí-do chính là số sinh giảm, nạn phá thai và vứt con. Thêm vào đó là bệnh hiếm-muộn nơi phụ-nữ vì cuộc sống xa-hoa và sa-đoạ. Lối sống ăn-chơi này không có nơi dân Đức, như sử-gia Tacitus kể:
"Phụ-nữ họ sống đoan-trang, không hư-hỏng bởi chưng-diện và ăn-chơi truỵ-lạc. Chuyện bỏ vợ bỏ chồng hoạ-hiếm mới xẩy ra, dù dân số đông. Hình-phạt ra ngay tại chỗ và giao cho chồng tuỳ-tiện thi-hành. Anh ta cạo trọc đầu vợ trước mặt họ-hàng, xé áo, đuổi ra khỏi nhà và vác hèo đánh vợ chạy cùng làng. Một phụ-nữ mất trinh-tiết coi như hết tương-lai. Dù còn trẻ, đẹp, giàu cũng chẳng lấy được ai nữa. Người dân Đức không đùa với chuyện truỵ-lạc. Dụ-dỗ người khác hay bị dụ-dỗ, đối với họ, không phải là sống theo mốt. Họ coi việc hạn chế sinh-đẻ hoặc giết con trẻ là tội ác; và xã-hội họ nhờ phong-tục tốt nên đã tiến xa hơn những nơi khác nhờ luật-lệ tốt."
Không thiết-tha chính-trị
Một lí-do khác là xã-hội càng ngày càng lơ-là chuyện chính-trị. Có những người dân Rô-ma tự lui xuống hạng thứ dân để khỏi bị bầu vào bộ máy công-quyền. Hoàng-đế Konstantin miễn thuế cho giới giáo-sĩ và công-chức. Hậu-quả là người ta đua nhau đi tu khiến nhà-nước mất thuế và không còn người cho các hội-đồng làng xã. Vì vậy, Konstantin lại phải ra thêm luật hễ ai – thuộc giai-tầng xã-hội cao – được bầu vào các hội-đồng dân cử thì không được làm giáo-sĩ.
Cũng có những tín hữu ki-tô tránh né chính-trị, không những vì muốn an thân, mà còn vì cho rằng chính-trị là chuyện "dơ-bẩn" không nên nhúng vào. I-rê-nê (từ năm 177 giám-mục ở Lyon) đã chống lại quan-điểm này với lí-luận: ai không đóng-góp cho phúc-lợi chung thì cũng không có quyền đòi chia hưởng công-sức của kẻ khác. Cụ-thể ông viết:
"Để có thể khoe được rằng mình hoàn-toàn tách-biệt với xã-hội dân ngoại, thì mình không có quyền khoác trên mình những gì do người khác làm ra, mà phải ở trần đi chân đất không nhà-cửa lang-thang trên núi, như thú hoang."
Chỉ những nhà ẩn-tu thực-hành nguyên-tắc đó. Những người dân khác tiếp-tục an-nhiên hưởng hoa-trái những nỗ-lực chính-trị của kẻ khác mà chẳng quan-tâm đóng-góp gì vào công-cuộc xây-dựng chung. Tôn-giáo cũng khó mà xoay-chuyển được thái-độ này.
Thất-bại trong chính-sách đối với dân thiểu-số
Sự sụp-đổ của Đế-quốc cũng còn có nguyên-nhân trong chính-sách vô lí đối với dân thiểu-số. Thiếu dân, binh-đội và bộ máy công-chức vì thế thiếu người, nên phải sử-dụng người ngoại-quốc, mà họ gọi là dân "khách", để điền thế. Thoạt-tiên người ta dùng họ như là những quân đánh thuê. Về sau có những cá-nhân ngoại-quốc tiến lên được những chỗ cao trong chính-quyền và quân-đội, như trường-hợp của chỉ-huy trưởng Odoaker.
Nhưng không phải tất cả "khách" đều được hội-nhập. Đặc-biệt những cuộc di-dân lớn đã tạo nên những cộng-đồng dân Đức rải rác khắp Đế-quốc. Lẽ ra chính-quyền ở Milano và Ravenna phải mở cơ-hội hội-nhập cho họ, nhưng trái lại, với chính-sách kì-thị chủng-tộc, Đế-quốc đã đẩy các cộng-đồng dân Đức này ra lề xã-hội.
Theoderich, một "nhà lãnh-đạo tuyệt-vời"
Odoaker trị-vì ở Ý 14 năm. "Khi đã hoàn-tất sứ-mạng lịch-sử – nối Thế-giới Rô-ma với dân-tộc Đức " (Loewenstein), ông thua một người Đức khác tên là Theoderich, vua xứ Đông-Goten, chào đời trong một vùng gần Wien (vần W tiếng đức đọc như V tiếng việt: "Viên", nay là thủ-đô Áo) một năm sau ngày Attila mất. Khi lên tám tuổi, Theoderich bị bắt làm con-tin và chuyển cho hoàng-đế ở Kon-stan-ti-nôp. 18 tuổi, anh nối ngôi cha, thống-hợp xứ Goten rồi kéo quân về Ý. Odoaker bị đánh bại ba lần và bị Theoderich giết khi anh này chiếm được Ravenna, nơi Odoaker đóng dinh, ngày 05.03.493.
Theo một tài-liệu cổ do Anonymus Valesianus viết, thì Theoderich là "một nhà lãnh-đạo tuyệt-vời, gần với mọi người và trị-vì 33 năm. Ba chục năm dưới thời ông, nước Ý sống trong thanh-bình. Ông không lần nào thất-bại. Ông lãnh-đạo dân Ý và Rô-ma thành-công. Dù coi mình thuộc giống dân Arian (Nhật-nhĩ-man) nhưng ông vẫn để luật Rô-ma yên cho họ. Ông phân-phát rộng-rãi vàng bạc và ngũ-cốc và nhờ lối quản-trị hữu-hiệu ông làm đầy lại các kho quí kim đã khánh-kiệt của nhà-nước. Ông không cấm-đoán gì cả đối với đạo Ki-tô."
Giáo-hội bị Theoderich đe-doạ
Giám-mục Wulfila lúc đó còn giảng đạo Ki-tô theo phái Arius cho dân Goten. Về sau tất cả các bộ-lạc Đức khác đều theo đạo này, trừ dân Franken. Người Đức vẫn coi giáo-thuyết Arius là quốc-giáo của mình, cả Theoderich cũng vậy. Ông này vẫn có liên-hệ tốt với giáo-chủ Gelasiô I. Nhưng thái-độ thân-thiện này rồi đây sẽ không còn nữa, khi ông dự-tính qui tất cả các bộ-lạc đức theo phái Arius thành một mặt-trận chung chống lại dân công giáo Hi-lạp và Rô-ma. Mộng của ông có lẽ đã thành-tựu nếu lúc đó không có vua xứ Franken công giáo là Chlodwig (Clovis). Và nếu như Theoderich thành-công, thì Giáo-hội phương tây có lẽ đã phải đứng trước một đe-doạ sống-còn.
Theoderich mất năm 526. Truyền-thuyết bảo là ông đã hoá thành Dietrich ở Bern (= Verona). Sau khi ông mất, hoàng-đế Ju-sti-ni-a-nô (527-565) của Đế-quốc Rô-ma Phía Đông đã mở một trận càn-quét kéo dài 20 năm chống lại Goten và chiếm lại được Ý. Sau trận đánh quyết-định ở gần núi Vesuv năm 553, trong trận đó vua cuối cùng của Đông-Goten là Teja bị tướng Narses của Đế-quốc Phía Đông giết, lịch-sử thế-giới không còn nhắc đến tên Goten nữa. Năm 554 Ju-sti-ni-a-nô ra luật mới và xoá sạch những dấu-vết hành-chánh còn lại của Đông-Goten. Nhưng chỉ vài năm sau (568), dân ngoại Langobarden tiến vào Ý và chiếm đóng nước này 200 năm dài. Phải đợi đại-đế Karl giải-phóng lại qua trận thắng gần Pavia năm 744.
TRÌNH THUẬT 11
BIỂN-ĐỨC (BENEDIKT) XÂY NỀN CHO PHƯƠNG TÂY
Năm 529 hoàng-đế Ju-sti-ni-a-nô I đóng cửa trường triết-học cuối cùng của dân ngoại ở Athen (Hi-lạp). Cùng năm đó, một người đàn ông trạc 50 tuổi lên núi Cassinus phía nam thành Rô-ma lập tu-viện. Và tu-viện này sẽ đưa tinh-thần ki-tô giáo trải khắp Âu châu. Người đó là Biển-đức đất Nursia. Trên núi còn có một đền cổ thờ thần Apollo. Biển-đức cho đập tượng, đốt đền rồi xây lên một nhà thờ kính thánh Martin thành Tours. Ông cho xây một nhà nguyện nhỏ kính Gio-an ngay trên chỗ bàn thờ cũ và đặt viên đá đầu tiên cho tu-viện Monte Cassino.
Rô-ma sa-đoạ
Biển-đức, con một gia-đình quí-tộc rô-ma miền quê, sinh khoảng năm 480 ở Nursia thuộc Umbrien miền trung Ý và được gởi đi học ở Rô-ma. Rô-ma thời đó bắt đầu lặn-ngụp trong truỵ-lạc.
Cuộc phân-rẽ đầu tiên giữa Rô-ma và Byzanz, thoạt tiên chỉ kéo dài 35 năm, xẩy ra dưới thời giáo-chủ Fê-li-xê II (483-492). Nỗ-lực thống-hợp của giáo-chủ A-na-sta-si-ô II (496-498) đã tạo nên một chia-rẽ nguy-hiểm trong giáo-triều, sau khi ngài mất. Đa số trong giáo-triều chọn Sym-ma-cô người Sardinien làm giáo-chủ và phong chức tại Lateran. Một nhóm cảm-tình với Byzanz lại chọn một vị Lau-ren-ti-ô nào đó làm giáo-chủ và tấn-phong ở thánh đường Maria Maggiore. Hai phe kéo xuống đường tấn công nhau ác-liệt, gây rối-loạn cả thành. Hai giáo-chủ đành xin quyết-định của Theoderich và Hoàng-đế đã chọn Sym-ma-cô. Hội-đồng (Synode) ở Rô-ma năm 499 đã hoan-hô nhiệt-liệt quyết-định của Hoàng-đế và đã ra một quyết-nghị đầu tiên cấm giáo-dân không được ảnh-hưởng lên việc bầu giáo-chủ. Cậu Biển-đức, phần vì chẳng hiểu tại sao trong Giáo-hội lại có thể có chuyện như thế, phần vì cuộc sống buông-thả của đồng-bạn làm cậu choáng-váng, nên đã chạy trốn khỏi Rô-ma. Một trăm năm trước đó thánh Pau-li-nô ở Nola cũng đã viết: Ai muốn vào Nước Chúa, phải tránh Rô-ma.
Rượu pha thuốc độc
Biển-đức trốn về vùng núi Sabiner phía đông Rô-ma và vào ở trong một hang núi gần Subiaco. Ở đó, ngày kia cậu gặp tu-sĩ Rô-ma-nô, là người – theo lời kể của đại giáo-chủ Grê-gô-ri-ô - đã cung-cấp lương-thực cho cậu sống. Không có đường vào hang, Rô-ma-nô hàng ngày phải buộc "chút thức ăn mùa chay dư của mình" vào một sợi dây rồi thả xuống. Kèm với thức ăn là một cái chuông nhỏ để Biển-đức nghe biết tới lấy.
Biển-đức sống trong hang ba năm, cho đến khi bị bọn chăn chiên khám-phá. Vì râu ria đầu tóc bờm-xờm người ta tưởng cậu là một con thú hoang. Chẳng bao lâu sau, các tu-sĩ của một tu-viện gần đó tới mời cậu về làm bề-trên, vì bề-trên họ vừa mất. Biển-đức cho hay mình sống rất khắt-khe. Ban đầu các thầy bảo không sao. Nhưng chẳng bao lâu họ xầm-xì chán-ngán vị bề-trên mới. "Một số anh bàn với nhau bỏ thuốc độc vào rượu cho ông uống", Grê-gô-ri-ô ghi lại như thế. Nhưng khi Bề-trên vừa làm phép thì chén rượu vỡ, khiến ông nhận ra kịp-thời âm-mưu ám-hại mình.
Thầy dạy của dân German
Về cuộc đời của thánh Biển-đức, chúng ta chỉ có những ghi-chú của đại giáo-chủ Grê-gô-ri-ô, kẻ cũng là tu-sĩ và rất mến-mộ vị Thánh. Những gì Grê-gô-ri-ô viết về Biển-đức không hẳn là một tài-liệu sử, nhưng đó là một cuốn hạnh-tích, gồm cả những chuyện truyền-tụng về ngài. Tuy nhiên, chuyện lập tu-viện ở Monte Cassino và luật dòng của ngài thì hoàn-toàn có thật. Nhờ luật này mà Biển-đức trở thành một thầy dạy quan-trọng của các bộ-tộc Đức non-trẻ mới tới định-cư trong vùng. Luật của ngài đánh dấu khởi đầu thời trung-cổ ki-tô giáo và ảnh-hưởng lớn trên sự phát-triển của thời-đại này. Nó đã là tấm bảng chỉ đường cho dân Đức bước vào một thời mới của lịch-sử thế-giới. Qua luật đó, Biển-đức được coi là "Người cha của Phương tây".
Hạt mầm cho sự trổi-dậy kinh-tế
Ngoài ra, Biển-đức cũng được coi là bậc thầy trên phương-diện kinh-tế, bởi vì luật của ngài buộc các tu-sĩ phải tự-túc lương-thực bằng mọi cách có thể. Trong thời-đại cuộc sống và sinh-môi bị tàn-phá bởi những cuộc di-dân lớn, các tu-viện biển-đức đã là những tụ-điểm sản-xuất và tiêu-thụ rải-rác và dần trở thành hạt mầm phát-triển kinh-tế cho cả vùng lân-cận. Cũng như dân Rô-ma, dân Đức coi công-việc chân-tay là thứ không đáng làm. Vì thế nguyên-tắc "Cầu-nguyện và làm việc!" của Biển-đức đã có tác-động mạnh trên dân này.
Biển-đức còn đòi-hỏi tu-sĩ mình "gắn chặt với cộng-đoàn", không đổi tu-viện cho tới lúc chết. Nguyên-tắc này cũng đã nhắc-nhở dân Đức ở lại định-cư làm-ăn, bỏ cuộc sống du-mục.
Nguyên-tắc thứ ba của luật biển-đức là việc phân-phối thời-khắc trong ngày: mỗi việc cầu kinh, làm việc, ăn uống và ngủ nghỉ đều có thời-điểm của nó. Giờ nguyện được Biển-đức chia ra như sau: Kinh đêm, kinh sáng (lúc bình-minh), kinh giờ (giờ nhất, giờ ba, giờ sáu và giờ chín), kinh chiều lúc mặt trời lặn và kinh tối vào buổi tối. Thời-gian và chương-trình đâu ra đó thì mới thành-công được.
Trí-tuệ của phương Tây
Những gì luật thánh Biển-đức ra cho một viện-phụ thì cũng đúng cho người cha, người mẹ, người làm chủ trong xí-nghiệp. Tất cả những ai nắm quyền lãnh-đạo đều : "Phải luôn nhớ mình là ai, mang danh gì và phải biết tin ai hơn để giao trách-vụ. Phải ý-thức được tầm nặng-nề của bổn-phận mình trong việc hướng-dẫn tâm-linh và phục-vụ nhiều người với nhiều tâm-tính khác nhau."
Ngoài vai-trò đặc-trưng của viện-phụ, các tu-viện biển-đức cũng là những tổ-chức dân-chủ đầu tiên với việc họp "Công-nghị tu-sĩ": "Viện-phụ triệu-tập toàn-thể tu-sĩ lại để bàn-thảo khi tu-viện có chuyện quan-trọng." Biển-đức ra "luật vàng" cho việc sống chung: "Kính anh, yêu em, ngăn-chận cãi-vã, tránh kiêu-căng. Nếu có bất hoà với ai thì hãy làm lành lại với họ trước khi chiều tối."
Biển-đức không quan-tâm nhiều tới lối sống khắc-kỉ đông phương. Ngài hiểu rằng những đòi-hỏi quá đáng sẽ khó xây-dựng cộng-đoàn lớn. Vì thế Biển-đức muốn mở ra một thứ kỉ-luật "không quá nặng mà cũng không quá khó". Với kinh-nghiệm trốn chạy thế-gian vào sống trong hang núi khi còn là học-sinh, Biển-đức sớm ý-thức được phải làm sao để sự "xa-lánh thế-gian" đó mang lại ơn-ích cho nhân-quần. Vì thế mà nhờ luật ông, các tu-viện biển-đức trốn đời hẻo-lánh đã trở thành những trung-tâm sinh-cư đặt nền cho sự trổi-dậy kinh-tế, đạo-đức và tôn-giáo cho một Âu châu mới. Các tu-sĩ biển-đức phục-hưng lại gia-sản văn-hoá cổ, mở trường học, cơ-sở dạy nghề và bệnh-xá. Họ phá rừng làm nông.
"... Nhóm Gyrovagen còn tệ hơn"
Việc tu-trì thời đó còn nhiều bất-cập. Biển-đức có dịp quan-sát thật gần các tu-sĩ và nhận ra rằng kỉ-luật là cái quan-trọng nhất mà họ thiếu. Ngài viết về nhóm tu-sĩ Sarabaiten trong bộ luật mình: "Một loại nhà tu thật tệ. Kinh-nghiệm cho thấy họ không những không được thử-thách bằng luật-lệ như lửa thử vàng, mà còn mềm như chì luôn ngã quị trước thế-gian. Luật-lệ của họ là tuỳ hứng, thích cái gì thì cho đó là thánh-thiện, cái gì ghét thì gọi là trái phép." Nhưng, cũng theo Biển-đức, nhóm tu-sĩ Gyrovagen còn tệ hơn: "Chẳng bao giờ ở một chỗ, nô-lệ tính-tình và ăn uống. Tốt hơn là đừng nói tới nhóm này."
Biển-đức và tu-sĩ của ông đều là giáo-dân. Nhưng cũng có những linh-mục xin nhập dòng. Và ý-kiến của Biển-đức về những trường-hợp này: "Nếu người (linh-mục) đó cứ nằng-nặc xin vào thì phải báo trước cho họ biết là kỉ-luật tu-viện rất khắt-khe và họ sẽ không được miễn giảm điều nào cả."
Dù làm ra luật nhưng Biển-đức không phải là người lập dòng, bởi thời đó mỗi viện-phụ làm luật cho tu-viện mình. Nhiều khi các luật trộn lẫn nhau. Ở Gallien vào khoảng năm 600 có trên dưới 20 luật được áp-dụng. Chính Biển-đức cũng khuyên nên dùng luật của ngài lúc "bước đầu" mà thôi, và ngài cũng không muốn xoá-bỏ các luật của Pachomius, Basilius và Cassian. Nhưng cuối cùng luật ngài đã trở thành khuôn-mẫu chung cho các tu-viện tây phương.
Biển-đức là người đầu tiên đưa ra các lời khấn, theo đó tu-sĩ hứa suốt đời ở trong tu-viện, sống theo luật dòng và hoàn-toàn vâng-lời bề-trên mình.
Biển-đức mất năm 70 tuổi. Cũng chính giáo-chủ Grê-gô-ri-ô ghi lại cái chết của ngài trong tu-viện Monte Cassino vào năm 547:
"Vì bệnh càng ngày càng nặng, ngài để các đồ-đệ mang vào nhà nguyện rồi đỡ ngài đứng thẳng, hai tay đưa lên trời, vừa cầu-nguyện vừa trút hơi thở cuối cùng."
(còn tiếp nhiều kỳ)

