Lịch sử Giáo Hội 8
DIE GESCHICHTE DER KIRCHE IN 100 REPORTAGEN
Tác giả : Josef Holzer
Người dịch : Đinh Phan Cư
Phạm Hồng-Lam
TRÌNH THUẬT 14
NGƯỜI ANH TRUYỀN ĐẠO Ở NƯỚC ĐỨC
Bô-ni-fa-xi-ô dùng búa đốn ngã cây sồi thờ thần sét ở Geismar. Đám dân Đức đứng xem chung quanh hoảng-hốt, nín thở chờ sét từ trời xuống đánh chết tay nhà tu phạm thượng này. Nhưng họ thất-vọng vì sét đã không tới. Một số đông trong đám dân Đức đó đã chịu rửa tội, vì tin rằng như thế là Chúa đã ở về phe Ki-tô giáo. Bô-ni-fa-xi-ô cho dựng trên chỗ cây sồi cũ một thập-giá. Ông dùng gỗ cây sồi làm một nhà nguyện gần Fritzlar.
Bô-ni-fa-xi-ô không phải là người đầu tiên giảng đạo nơi dân Đức. Trước đó, các tu-sĩ Ái-nhĩ-lan (Irland) và Tô-cách-lan (Scotland) đã tới giảng trên vùng phía bắc dãy Alpes này rồi. Điển-hình trong số đó là tu-sĩ Kolumban.
Ông "khổng-lồ" Kolumban
Nước Anh là điểm xuất-phát các cuộc truyền giáo ở Đức. Ki-tô giáo tới Anh qua đoàn quân viễn-chinh Rô-ma. Thánh Patrick, người giữ vai-trò quan-trọng nhất trong cuộc ki-tô-hoá nước Anh, là người tổ-chức giáo-hội Ái-nhĩ-lan và mở nhiều tu-viện. Ái-nhĩ-lan thời đó là nước nhiều tu-viện nhất. Cả nước không có thành-phố, nên tu-viện là những trung-tâm vừa tôn-giáo vừa văn-hoá. Từ những tu-viện này tu-sĩ toả đi truyền giáo khắp lục-địa. Một trong số họ là thầy Kolumban: "một anh khổng-lồ xương-xẩu, bàn tay có thể vặn cổ gấu", người ta kể như thế. Thầy là một người Kelte điển-hình: tóc dài toả vai, cắt thành hình bán nguyệt trước trán, giọng giảng như sấm. Trước hết, thầy tới giảng ở Vương-quốc Franken, nơi giáo-hội đang thoái-trào. Thầy cùng với đồng bạn là Gallus, Emmeran và Rupert cố-gắng vực con bệnh giáo-hội Franken dậy.
Bất hoà với các giám-mục
Kolumban thành lập các tu-viện và ra luật tu. Kèm với luật đó là cuốn "Sách đền tội". Thầy tới đâu, dân tuôn tới theo nghe thật hồ-hởi. Nhưng tiếc rằng sau đó thầy chẳng màng gì tới những nơi đã đi qua. Một người đương thời xác-nhận điều đó: "Thầy tung lửa ki-tô ra khắp nơi, mà chẳng màng tới chuyện lửa cháy như thế nào." Một lí-do nữa khiến việc truyền giáo của thầy ít thành-công là vì bất đồng với giáo-chủ Rô-ma và các giám-mục Franken. Người Ái-nhĩ-lan không đồng ý mừng lễ Phục-sinh theo ngày Rô-ma ấn-định và họ yêu-cầu chuyển sang một ngày khác. Các giám-mục Ái-nhĩ-lan đã làm theo ý dân, vì các vị này lệ-thuộc các tu-viện. Vì thế, khi sang Franken, Kolumban cũng không muốn tùng-phục các giám-mục ở đây. Vì vậy mới sinh ra chuyện cơm không lành canh không ngọt. Giám-mục mời, Kolumban chẳng thèm tới.
Thầy cũng làm thơ
Hạnh-tích Kolumban được ghi lại rất sớm sau ngày thầy qua đời, nên tương-đối ít sai sót. Nhờ vậy ta biết lúc nhỏ thầy là người cô-độc, sống khổ-hạnh và thích làm việc nặng. Sử chẳng ghi lại cuộc tranh-luận cao-siêu nào trong suốt đời truyền giáo của thầy, mà chỉ thấy thầy dùng cuộc sống và thí-dụ để lôi cuốn lòng người. Tuy vậy, thầy không phải là người không biết đến khoa-học. Thầy cũng biết làm thơ một cách tinh-tế. Một lần bị chính-quyền Franken trục-xuất, thầy đã trốn được khỏi lính canh. Trên con thuyền nhỏ ngược dòng sông Rhein, thầy cảm-khoái làm mấy dòng thơ như sau:
"Hây ! Gỗ chặt từ rừng xanh. Thuyền nhẹ lướt nhanh-nhanh. Nhấp-nhô làn sóng nhẹ. Vỗ vào bờ sông Ranh (Rhein). Hây! Này bà con ơi. Núi vọng tiếng ta hô. Gió lên, mưa rừng đổ. Dù sóng cuốn ba đào. Sức người vẫn làm chủ."
Gallus muốn ở lại
Sau khi ngược sông Rhein chèo tới làng Tuggen bên hồ Zuercher (Thuỵ-sĩ), Kolumban gặp dân ngoại đang mở hội. Thầy giận-dữ ném lễ-vật của họ xuống hồ và phá đổ bàn thờ. Để tránh cơn giận của dân làng, thầy và đồng bạn trốn tới Bodensee (hồ nằm giữa Đức, Áo và Thuỵ-sĩ ngày nay). Lại xung-đột với dân bản-xứ. Lần này Kolumban quyết-định vượt núi Alpes sang Ý. Chỉ mình Gallus vì bị cảm phải ở lại. Thực ra Gallus ở lại vì một lí-do khác: thầy đã học được tiếng địa-phương và đã tạo được quan-hệ tốt với người bản-xứ. Tên của thầy ngày nay là tên của tu-viện, thành-phố và hạt St. Gallen ở Thuỵ-sĩ. Kolumban mất tại Bobbio ở Ý ngày 23.11.615. Trước khi mất thầy còn gởi cho Gallus cây gậy đi đường của mình, chỉ dấu không còn giận Gallus nữa vì đã không đồng-hành với thầy sang Ý.
Lí-do kém thành-công của các nhà truyền giáo Ái-nhĩ-lan và Tô-cách-lan có thể nói là vì không có chương-trình và không quan-tâm tới tâm-tình dân bản-xứ. Hai lí-do khác nữa là thiếu gắn-bó với Rô-ma và việc truyền giáo của họ đặt dưới sự che-chở của chính-quyền Franken, điều làm người ta có cảm-tưởng bị ép-buộc vào đạo.
Công của các thầy là dọn đường dọn đất cho các nhà truyền giáo từ nước Anh sau này. Nổi tiếng nhất trong những người này là Bô-ni-fa-xi-ô.
Chương-trình của đại giáo-chủ Grê-gô-ri-ô
Khoảng năm 450, hai bộ-tộc đức là Angeln và Sachsen (Angelsachsen = Ănglô - Xắcxông) rời miền bắc Đức sang định-cư ở Anh. Ban đầu, họ ra tay bóp chết Ki-tô giáo đang thịnh-hành nơi dân địa-phương Ái-nhĩ-lan và Tô-cách-lan. Họ đã có thể thành-công, nếu như đại giáo-chủ Grê-gô-ri-ô (590-604) đã không nhận ra nguy-cơ và hành-động kịp thời. Thoạt tiên, Giáo-chủ mua các nô-lệ người Anh ở chợ Rô-ma mang về đưa vào dòng huấn-luyện thành các nhà truyền giáo rồi gởi về quê-hương. Chương-trình này kéo dài quá lâu, nên Giáo-chủ cấp-tốc gởi 40 tu-sĩ sang trước. Các thầy sợ, nhưng rồi cũng đổ-bộ vào Kent, năm 596, nơi vua Ethelbert cai-trị và được ông này đón tiếp. Vợ vua, bà Bertha, là một công-chúa người Franken ở Paris và đã là ki-tô hữu. Đây là một thí-dụ mới về vai-trò thường rất quyết-định của một người đàn bà trong lịch-sử Giáo-hội.
Một năm sau ngày các tu-sĩ đổ-bộ lên Kent, vua Ethelbert vào đạo. Cũng như trường-hợp Chlodwig, lại cảnh hàng đoàn hàng lũ thần dân nhận phép rửa theo chủ. Đạo Ki-tô ở Anh hẳn thấm sâu hơn ở Franken, vì 400 năm sau, giáo-hội Anh đã có 83 vị thánh và ít nhất có 33 vua, hoàng-hậu, công-tử, công-chúa dâng mình vào dòng. Các tu-viện nữ đã đóng-góp không ít vào sự thành-công này.
Hoàng-hậu Bertha đã giúp mở đầu cuộc truyền giáo. Các dòng nữ với công-tác xã-hội từ-thiện đã khơi dậy cảm-tình người dân đối với Ki-tô giáo. Nhưng thành-công một phần cũng nhờ vào thái-độ khôn-ngoan đối với tân-tòng. Giáo-chủ Grê-gô-ri-ô đã ra lệnh không được phá bỏ phong-tục hiện có của họ, nhưng trái lại nên ki-tô-hoá những phong-tục đó.
Bô-ni-fa-xi-ô tái lập trật-tự.
Bô-ni-fa-xi-ô gốc người Anglô-Xắcxông, sinh năm 675 từ một gia-đình trọng-vọng ở Essex. Tên ban đầu của ngài là Winfried. Sau nhiều chống-đối, cha ngài cuối cùng đã cho phép ngài nhập dòng. Năm 30 tuổi, nhận chức linh-mục, Bô-ni-fa-xi-ô sang truyền giáo ở Friesen (bắc Đức), nơi đồng-hương của ngài là Willibrord cùng 11 bạn khác đã sang giảng từ năm 690 ở gần Utrecht (Hoà-lan). Dù nhiều vị trong đoàn truyền giáo đã phải chết vì đạo, nhưng Bô-ni-fa-xi-ô vẫn cương-quyết sang. Nhưng ngài đã không ở lại được lâu, vì bị dân địa-phương chống-đối ("Liewer dued as Slav" = Thà chết hơn làm nô-lệ (đạo mới)!). Sau đó không lâu Bô-ni-fa-xi-ô rời Anh sang Rô-ma gặp Grê-gô-ri-ô II. Giáo-chủ phong cho ngài chức giám-mục địa-phận Mainz (Đức).
Khi Bô-ni-fa-xi-ô trở lại Đức, giáo-hội ở đây đang gặp khủng-hoảng lớn, vì những xâu-xé của nhà Merowing và vì giáo-hội ở đây thiếu liên-lạc chặt-chẽ với Rô-ma. Giáo-hữu ở Hessen (trung Đức) bỏ đạo và "giáo-sĩ biến chất không thể tưởng" (Lortz) làm Bô-ni-fa-xi-ô lo-lắng. Ngài thuyên-chuyển các linh-mục và giám-mục bất xứng và chú-tâm vào việc huấn-luyện giáo-sĩ. Đặc-biệt bắt các linh-mục học thi Sách Thánh. Năm 744 ngài lập tu-viện Fulda làm trường huấn-luyện mẫu cho cả nước Đức. Quan-tâm hàng đầu của ngài là nối lại quan-hệ với Rô-ma, để cản việc hình thành một giáo-hội Đức tự-trị. Vì vậy ngài định lại tổ-chức giáo-hội, chia giáo-hội Bayern (nam Đức) thành bốn giáo-phận Passau, Salzburg, Freising và Regensburg cùng định quyền cho từng giáo-phận. Năm 747, ngài yêu-cầu các giám-mục Franken tuyên-bố trong một thượng-hội-đồng "quyết-định kết-hợp với Giáo-hội Rô-ma và tuân-phục quyền-bính của Rô-ma". Ngài bắt các tu-viện áp-dụng luật biển-đức. Qua các dòng tu, ảnh-hưởng của Ki-tô giáo trên giáo-dục và đạo-đức của người Đức càng ngày càng lớn. Đặc-biệt các tu-viện trở thành những trung-tâm nghệ-thuật và khoa-học, đồng thời cũng là nơi trú-ẩn của những ai bị chèn-ép hoặc bách-hại, trạm dừng chân cho khách phương xa và bệnh-xá cho người đau yếu hoặc mắc bệnh chờ chết. Năm 742 Bô-ni-fa-xi-ô đã có thể viết: "Từ nửa Ki-tô giáo trong vùng nay đã trở thành một toàn-thể".
Sau những năm tháng dài không mệt mỏi trong việc xây-dựng và nối-kết giáo-hội giữa dân Đức, vị tông-đồ 80 tuổi quyết-định trở lại rao-giảng miền Friesen mà ngài luôn canh-cánh bên lòng. Sứ-mạng của ngài kết-thúc trong bi-thương: Ngày 05.06.754 ngài cùng 52 đồng-nghiệp bị dân ngoại quá-khích đánh chết.
TRÌNH THUẬT 15
ĐẠI GIÁO-CHỦ GRÊ-GÔ-RI-Ô, NGƯỜI CỦA THỜI NHIỄU-NHƯƠNG
Grê-gô-ri-ô sinh năm 540 từ một gia-đình đại quí-tộc ở Rô-ma và thuộc dòng trực-tiếp của giáo-chủ Fê-li-xê III. Fê-li-xê III đã lập gia-đình trước khi được phong phó-tế. Năm 32 tuổi, Grê-gô-ri-ô trở thành tỉnh-trưởng Rô-ma, công-chức cao cấp nhất của thành-phố. Nhưng ông không lấy đó làm thoả-mãn, vì tâm-hồn cảm thấy trống vắng và vẫn khao-khát một cái gì đó. Sau khi bố mất, ông biến dinh đang ở thành một tu-viện biển-đức "Tu-viện An-rê" và trở thành một tu-sĩ của dòng mình, năm 35 tuổi. Ông thực-hành một cuộc sống quá khắc-khổ khiến bị liệt chân và không ăn chay nổi, vì cứ bị bất tỉnh.
Nhưng cuộc sống tu-viện không được lâu. Giáo-chủ Pê-la-gi-ô II, một người gốc Goten, đã kéo ông ra triều, phong phó-tế rồi giao cho cai-quản một trong bảy địa-phận Rô-ma. Grê-gô-ri-ô phẩm-bình về chuyện này: "Chúng tôi trong thâm-tâm muốn sống cuộc đời tĩnh-lặng nhưng lại bị kéo ra để chiếm-đoạt lòng người". Giáo-chủ sau đó lại cử thầy làm khâm-sứ tại cung hoàng-đế Tibêrius II ở Kon-stan-ti-nôp. Vai-trò làm con thoi giữa Giáo-chủ với Hoàng-đế quả không dễ-dàng. Sau khi hết nhiệm-vụ trở về năm 585, Grê-gô-ri-ô vào lại tu-viện, nhưng tiếp-tục làm cố-vấn cho Giáo-chủ, cho tới khi vị này bất-chợt mất và dân cũng như giáo-sĩ Rô-ma đồng-thanh bầu thầy lên làm giáo-chủ kế vị. Grê-gô-ri-ô ban đầu từ chối. Nhưng rồi chấp-nhận sau khi hoàng-đế Mauritius, người được thầy rửa tội khi đang làm khâm-sứ ở Kon-stan-ti-nôp, tuyên-bố hài-lòng về cuộc bầu. Grê-gô-ri-ô trở thành giáo-chủ trong một thời mà người đương thời chỉ bằng lòng hoặc chỉ khen một người nào đó sau khi họ đã chết. Tình-cảnh Rô-ma lúc đó thật khó sống.
"Đau-buồn không dứt"
Rô-ma mất tới ba phần tư số dân, trở nên như một thành-phố chết. Từ tháng 11 năm 589 thành-phố gặp hết nạn này đến thiên-tai khác. Nước lũ sông Tiber tràn bờ làm hư hết những kho lương-thực cuối cùng. Hậu-quả là nạn đói. Rồi tới nạn dịch, mà một trong những nạn-nhân đầu tiên là giáo-chủ Pê-la-gi-ô. Cướp-bóc và bạo-lực hàng ngày làm dân khiếp-sợ. Đám tù-binh Langobarden, bị bắt trước đây trong dịp vua họ là Alboin xua quân tới tấn công Rô-ma, "xích quấn quanh cổ kéo nhau đi từng đoàn như đám chó đói" khắp đường phố. Grê-gô-ri-ô viết: "Quốc-hội ở đâu ? Tất cả đã giải-tán. Những kẻ sống sót còn lại gì? Giết chóc từng ngày, đau-buồn không dứt." Và một lần khác, ngài "cảm thấy tinh-thần bị gánh tránh-nhiệm đè nặng đến đổ mồ-hôi máu."
Mọi người hi-vọng vào ngài
Grê-gô-ri-ô hiểu rằng nay là lúc dân Rô-ma đang hướng mắt về mình. Năm 592 và 593 Rô-ma bị quân Langobarden vây hãm. Không hi-vọng gì được hoàng-đế phương Đông tiếp-cứu. Grê-gô-ri-ô đành phải đơn thương độc mã tổ-chức cuộc phòng-thủ. Từ sân thượng điện Lateran toạ-lạc gần tường thành, ngài đích thân chỉ-huy trận-địa. Cuối cùng, qua thương-thuyết và phải nhận trả một món tiền lớn, ngài đã đạt được một thoả-hiệp đình chiến. Lẽ ra đây là nhiệm-vụ của hoàng-đế ở Kon-stan-ti-nôp hoặc của Toàn-quyền của ông ở Ravenna và của quốc-hội Rô-ma. Nhưng chẳng ai đoái-hoài đến một Rô-ma đang dở sống dở chết. "Qua việc lo an-sinh cho dân trong một chính-quyền bất-lực, giáo-quyền đã nghiễm-nhiên nhận vào mình những nhiệm-vụ và trọng-trách thế-quyền". Grê-gô-ri-ô đã không tự ý muốn làm "hoàng-đế". Nhiều lần, ngài phàn-nàn vì chức giám-mục mà bị lôi cuốn vào những nhiệm-vụ trần-thế. Nhưng ngài có thể để mặc dân-tình được sao? Nếu dân sau đó cảm-mến ngài và các giáo-chủ về sau dần lún sâu vào thế-quyền, thì cũng đừng nên buộc tội các giáo-chủ. Bởi các "nhà chính-trị" lúc đó đã cao bay xa chạy !
Của-cải được sử-dụng đúng
Phí-tổn mua đình chiến đã nặng. Nhưng Grê-gô-ri-ô còn bỏ tiền chuộc tù nhân, cho nông-dân vay không lãi, phân-phát lương-thực, quần áo cho kẻ khốn-cùng ở Rô-ma. Một tài-liệu đương thời đã viết Giáo-hội "như một vựa lúa bỏ ngỏ". Giáo-chủ lấy tiền ở đâu?
Đầu tiên, ngài hi-sinh gia-sản riêng. Rồi Giáo-hội thời đó còn có nhiều vùng đất tặng ở Ý, Dalmatien, Gallien và ở phương Đông. Nhờ các tài-sản này được quản-trị tốt, nên đã có được phương-tiện để chống địch, cứu đói.
Dù thành-công lớn, Grê-gô-ri-ô vẫn sống như một thầy tu khiêm-nhượng. Ngài không nhận tước "Giáo-chủ hoàn-vũ" người ta tặng, mà trái lại tự nhận là "Tôi-tớ của những tôi-tớ Chúa" (Servus Servorum Dei). Danh-hiệu này ngày nay còn được dùng trong các tài-liệu Giáo-hội. Grê-gô-ri-ô "Đại giáo-chủ" , như người ta đã gọi ngài, vị "Giáo-chủ thứ nhất của thời trung-cổ" mất ngày 12.03.604 lúc 64 tuổi.
Một vị kế nhiệm đáng kính của Lê-ô
Grê-gô-ri-ô là người kế nhiệm In-nô-xen-xô I (401-417), người đã giúp Rô-ma thoát vòng vây của quân Tây-Goten, và kế nhiệm Lê-ô I (440-461), người đã khuyến-dụ được Attila thôi vây Rô-ma và khuyến-dụ Geiserich (quân Vandalen) không phá nát Rô-ma. Trước Grê-gô-ri-ô, giáo-chủ Lê-ô là một khuôn mặt lớn, vì ngài đã lập nền-tảng uy-quyền cho ngai giáo-chủ thời trung-cổ. Ngài nói: "Ta cùng chia-sẻ ưu-tư của mọi người và để mọi người thông phần vào việc điều-hành; bởi vì khắp mọi miền trái đất ai-ai cũng muốn tìm đến nương-tựa nơi ngai thánh Phê-rô, và họ chờ-đợi nơi giám-mục Rô-ma lòng yêu-mến Giáo-hội hoàn-vũ, như Thầy trước đây đã khuyên-nhủ Phê-rô." Từ Lê-ô trở đi, nếu không có sự hỗ-trợ của giáo-chủ hoặc nếu chống lại ngài, chẳng vua chúa nào có thể hi-vọng tạo thống-nhất được Giáo-hội (R. Rahner).
"Thuyết hai gươm" để cản-ngăn Đế-quốc Rô-ma Phía Đông
Các ghế giám-mục hình-thành thời sơ-khai không ngang bằng nhau, nhưng giám-mục Rô-ma đã khá sớm nắm được vị-trí ưu-quyền trong hàng giám-mục. Chẳng hạn Klê-men-tô I, người kế vị thứ ba sau thánh Phê-rô, đã dùng uy giáo-chủ giải-quyết được tranh-chấp ở Cô-rin-tô. Trong vụ tranh-chấp lễ Phục-sinh, giáo-chủ Vic-to-rê I (189-199) đã tuyệt-thông tín hữu ở Ê-phê-sô, vì họ không chịu mừng lễ Phục-sinh cùng một ngày như ở Rô-ma. Cả Klê-men-tô I lẫn Vic-to-rê I đã có thể nhân danh giám-mục Rô-ma để quyết-định chuyện của các cộng-đoàn khác ngoài Rô-ma. Ưu-quyền giáo-chủ đã được In-no-xen-xô I, Lê-ô I và Grê-gô-ri-ô dần-dần củng-cố và thắt chặt. Uy-quyền của các giáo-chủ thời cổ cũng đã vượt trên cả thế-quyền.
Trên danh-nghĩa, một trăm năm sau Grê-gô-ri-ô I, Rô-ma vẫn thuộc quyền Đế-quốc Rô-ma Phía-Đông, nhưng quan-hệ hai bên cứ lỏng-lẻo dần theo từng giáo-chủ. Mâu-thuẫn lớn giữa giáo-quyền và đế-quyền nổ ra dưới thời Lê-ô I, khi hoàng-đế Theodosius II triệu-tập công-đồng Ê-phê-sô (449). Công-đồng quyết-nghị phục-hồi danh-dự cho kẻ rối chủ-trương nhất-nguyên là Eutyches mà không hỏi ý-kiến của sứ-giả của giáo-chủ gì cả. Về sau Lê-ô gọi công-đồng đó là một "quyết-nghị sai lầm khùng-điên, vượt trên mọi phạm-thượng", là "công-đồng kẻ cướp" và buộc Hoàng-đế phải rút lại quyết-nghị. Giáo-chủ viết cho Hoàng-đế: "Hãy trả lại cho tôi tự-do bảo-vệ đức tin, là thứ mà không bạo-lực hoặc khủng-bố cường-quyền nào có thể bẻ gẫy. Khi tôi lo cho Giáo-hội, thì đồng thời cũng là muốn điều tốt cho Vương-quốc ngài và cho chính ngài. Chỉ như thế hoà-bình và công-lí mới ngự-trị trên mọi vùng đất của ngài."
"Quyết-nghị sai lầm" của Ê-phê-sô được công-đồng Can-xê-đôn năm 451 cải-chính, khi công-đồng chống lại chủ-trương của phái nhất-nguyên và phái Nestorian, đồng thời trịnh-trọng công-bố đức Ki-tô "mang hai bản-tính trọn-vẹn, vừa là người vừa là Chúa, không hoà-nhập và lẫn-lộn, không tách rời và riêng-rẽ, cả hai bản-thể hợp-nhất trong một con người."
Nhất-nguyên Eutyches coi nhẹ bản-tính người nơi Chúa Ki-tô, mà trái lại coi thần tính nơi Ngài hầu như khoả lấp hết nhân-tính. Phái Nestorian trái lại bảo rằng Maria chỉ sinh ra một con người, vì thế không thể gọi là "kẻ sinh ra Chúa" được.
Vì Hoàng-đế cứ nhúng tay dài-dài vào chuyện Giáo-hội, giáo-chủ Sim-pli-ci-ô (468-483) đã phải viết cho ông: "Nếu ngài muốn chính-quyền ngài không sụp-đổ, thì đừng có chửi-rủa Thiên-chúa, bởi vì không có gì trên trần-gian này bền-vững nếu không thi-hành phận-vụ đối với Trời." Giáo-chủ Fê-li-xê III (483-492), người kế vị Sim-pli-ci-ô, cũng cảnh-cáo hoàng-đế ở Kon-stan-ti-nôp đừng xía vào chuyện đức tin, là chuyện thuộc thẩm-quyền các giám-mục, và đừng muốn nắm đầu, nhưng hãy tôn-trọng sự độc-lập của Giáo-hội. Kế vị Fê-li-xê là giáo-chủ Gê-la-gi-ô I (492-496), người đã viết cho hoàng-đế Anastasius câu nổi tiếng sau: "Thế-gian trước hết được cai-trị bởi hai quyền: quyền thánh của các giám-mục và quyền của hoàng-đế. Trong hai gánh thì gánh của giám-mục lại càng nặng hơn, vì các ngài phải trả lời trước mặt Chúa cho cả các vua chúa loài người." Quan-điểm này về sau được diễn-dịch thành "Thuyết hai gươm". Các luận-chứng trên hình thành không ngoài nỗ-lực dành độc-lập cho Giáo-hội và chống lại sự vươn tay của các hoàng-đế Phía Đông. Thực ra, các giáo-chủ thời đó không muốn gì ngoài một sự phát-triển song-hành và hài-hoà giữa Giáo-hội và một nhà-nước độc-lập. Các giáo-chủ chỉ muốn chống và phải chống, là vì – như giáo-chủ Ormisda (514-523) phát-biểu – "Chúng tôi không thể để cho người ta mặc sức sai khiến được!".
(còn tiếp nhiều kỳ)

