Thương hiệu Samaria!
“Thương hiệu Kitô giáo” thuở ban đầu đã làm choáng ngợp mọi người (x. Cv 2, 42 – 47; 4, 32 – 37)
"Ta sẽ tùy theo việc các ngươi làm, mà thưởng phạt mỗi người" (Kh 2,23)
Như thầy thông luật phải học lại gương sống của một người “dị giáo”, phải chăng đạo Công giáo, “thương hiệu Kitô giáo” suy sụp đến độ một linh mục – dù là một người theo phong trào thần học giải phóng - phải đi thỉnh giáo một nhà sư Tây Tạng về cách sống tốt hơn– dù Vị ấy là một Lạt Ma? - Hồi chuông cảnh tỉnh đã đủ mạnh?
THẦY THÔNG LUẬT LEONARDO BOFF.
Leonardo Boff, nhà thần học giải phóng người Brasil hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma: “Theo Ngài, tôn giáo nào hiện nay là tôn giáo tốt nhất ?”. Đức Đạt Lai Lạt Ma mỉm cười và từ tốn đáp: “Tôn giáo tốt nhất là tôn giáo đưa ta tới gần Thượng Đế, và làm cho ta trở thành con người tốt hơn”. Leonardo Boff hỏi tiếp: “Tôi phải làm gì để trở nên tốt hơn?”. Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp: “Bất cứ cái gì làm cho bạn biết thương xót, bao dung, xả thân, yêu thương, nhân đạo, trách nhiệm, đạo đức, thì những cái đó thuộc về tôn giáo tốt nhất”.
Như thầy thông luật phải học lại gương sống của một người “dị giáo”, phải chăng đạo Công giáo, “thương hiệu Kitô giáo” suy sụp đến độ một linh mục – dù là một người theo phong trào thần học giải phóng - phải đi thỉnh giáo một nhà sư Tây Tạng về cách sống tốt hơn– dù Vị ấy là một Lạt Ma? - Hồi chuông cảnh tỉnh đã đủ mạnh?
“THƯƠNG HIỆU KITÔ GIÁO" : BÁO ĐỘNG ĐỎ!
Năm 2002, Công ty Trung Nguyên, thương hiệu Càfê nỗi tiếng ở Việt Nam, cho biết đã giành lại "tên" của mình, vốn từng bị Công ty Rice Field đăng ký bảo hộ trước với WIPO (Tổ chức bảo hộ Trí tuệ Thế giới) . Sau hai năm thương thảo, công ty này đã chấp thuận trả lại quyền bảo hộ và nhận làm đại lý phân phối sản phẩm Cafe Trung Nguyên của Việt Nam tại Mỹ. Mất thương hiệu là mất đường làm ăn!
Thuật ngữ “thương hiệu” - brand - được dùng hiện nay có nguồn gốc ở Mỹ, từ dấu sắt nung in trên mình gia súc thả rông để đánh dấu quyền sở hữu của người chủ đối với đàn gia súc. Tại Việt Nam, thuật ngữ này mới xuất hiện trong mấy năm gần đây. Ở bất cứ đâu trên thế giới, các doanh nghiệp đều có chung một mục đích là tăng thị phần và lợi nhuận, điều này chỉ được thực hiện khi họ thắng cuộc trong việc dành được tâm trí khách hàng. Đây là công việc không hề đơn giản bởi hàng ngày có đến hàng nghìn, hàng vạn thông tin quảng cáo về các sản phẩm, thương hiệu trên khắp các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều đến nỗi khách hàng không thể chú ý hết được với quỹ thời gian ít ỏi của mình. Bởi vậy, chỉ có thành công trong việc chiếm vị trí trong tâm trí khách hàng và tạo ra bản sắc riêng cho hình ảnh thương hiệu mới có cơ hội phát triển và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì thế, định nghĩa đơn giản và có lẽ đầy đủ nhất cho “thương hiệu”, đó là : hình ảnh, cảm xúc, thông điệp tức thời mà mọi người có khi họ nghĩ về một công ty hoặc một sản phẩm. Và dù muốn dù không, hôm nay chúng ta phải nói về một “thương hiệu” trong xã hội tôn giáo chính trị thời Chúa Giêsu, mà dù bị từ chối đón tiếp, Chúa Giêsu cũng phải thừa nhận và lấy làm nội dung cho dụ ngôn : Thương hiệu Samaria!
Không chỉ thời đại Chúa Giêsu, mà trước đó, sau đó, hiện nay và có lẽ lâu dài mai sau, người Do Thái vẫn luôn cho mình là “chính thống” và coi khinh các dân tộc và tôn giáo khác, có khi dẫn đến chủ nghĩa Sion (Zionism -chủ nghĩa phục quốc Do Thái). Tâm lý ấy, não trạng ấy đã khiến họ bị phân biệt đối xử khắp nơi và vẫn tồn tại chủ nghĩa bài Do Thái (anti-sémitism), mà đỉnh điểm là những vụ tàn sát đẩm máu kinh hoàng do Hitler và Đức quốc xã tiến hành trong thế chiến thứ hai, nhằm tiêu diệt dân tộc Do Thái. Samaria luôn bị người Do Thái coi là “ngoại đạo”, là “dị giáo” và cắt đứt mọi quan hệ về mọi mặt. Trong tình cảnh đó, với niềm hãnh diện riêng của mình, người Samaria chứng tỏ cho người Do Thái thấy “không mợ thì chợ vẫn đông”, bằng sự đoàn kết của họ trong sinh hoạt, trong lập trường tôn giáo : họ sẵn sàng nghe và kể cả tin theo Chúa Giêsu khi người phụ nữ thuật lại cho họ về Chúa Giêsu và dẫn họ đến với Người, ở ngoài thành, với tư cách là một “vị tiên tri”; còn nếu Chúa Giêsu đến với tư cách một người Do Thái “xin vào một làng trong thành” (x. Lc 9, 52 – 53), thì miễn bàn. Lên Giêrusalemcó nghĩa là đến với “kẻ thù” và ngay tức khắc được liệt vào “người thân cận của kẻ thù”. Nhưng họ không để hận thù truyền kiếp che mờ những nguyên tắc làm người: lòng nhân ái, vị tha. Còn hơn thế nữa, đạo đức làm người ấy chắc chắn được nhắc nhở, được giáo dục, được sống thường ngày, đến độ trở thành một phản xạ, một nếp sống thể hiện qua hành xử của người Samaritanô Tốt Bụng hôm nay. Cách hành xử nầy không thể là ngẫu nhiên, mà được hình thành như một tập quán “đất lề quê thói”. Nó làm nên “thương hiệu Samaria”, không thể lầm lẫn được với hình ảnh sống đạo của người Do Thái, tiêu biểu nơi hai nhân vật thuộc hạng chóp bu của dân Do Thái: nhỏ nhen, ích kỷ, đạo đức giả, vô lương tâm!
Trong bộ phim “No country for old men” (phát hành ở Việt Nam với tựa đề “Không chốn dung thân”), người ta thấy một viên cảnh sát tốt bụng luôn nỗ lực với công việc gắn liền với trọng trách là bảo vệ công dân yêu quí của ông. Chỉ tiếc rằng ông đã quá già. Llewelyn tội nghiệp bị số tiền bất chính chi phối sự sống còn cũng là gã trai già, nhìn chung là tốt. Cuối cùng là tên sát nhân máu lạnh Chigurh, coi việc giết người và nhìn thấy máu đổ là một phần việc phải làm trong ngày. Mệt mỏi và tội lỗi, tất cả cuối cùng phải trả giá cho những việc làm của mình, cái giá không phải đắt mà là rất rẻ, phi lí đến nực cười. Thực tế, với cách hành xử của chúng ta, Kitô hữu Công giáo, cũng là lời khẳng định: “no country” không chỉ cho người già, người nghèo đói bất hạnh, cho các cháu bé chưa sinh, cho người bị HIV/Sida hoặc phong cùi, mà tha nhân cũng “no country” với chúng ta, trừ phi “ú đi dì lại”, “hai bên đều có lợi”. Nhiều Kitô hữu vẫn thờ ơ, quay lưng nghoảnh mặt với số phận của những người vô tội dễ bị tổn thương nhất : những người nghèo đói, những người bất hạnh, những người bệnh nặng và già yếu bị cho “an tử” dưới chiêu bài nhân đạo và những phôi thai, những cháu bé bị ngừa, bị nạo phá một cách bất nhân. Đã có Vatican, đã có Giáo Hoàng, các hồng y và bộ ngành, đã có các phong trào và tổ chức “bảo vệ sự sống” : chúng ta có thể điềm nhiên tránh sang một bên. Theo gương Philatô, chúng ta rửa tay vô can! Người ta không ngần ngại khẳng định rằng : chính các nước Châu Âu và Hoa Kỳ, những quốc gia có nền văn hoá Kitô giáo lâu đời, là đầu tươu trong những sáng kiến vô luân quái gỡ : ngừa tránh thai, nạo phá thai, an tử, kết hợp đồng tính, phim ảnh sách báo bạo lực đồi trụy và cả bài Kitô giáo.
Nói đến thương hiệu, là nói đến cạnh tranh và không ít khi cạnh tranh không lành mạnh, khi có những đối thủ, những kẻ thù không từ một thủ đoạn bỉ ổi nào, để giành phần thắng. “Thương hiệu Kitô giáo” bị ba thương hiệu “ xác thịt”,”thế gian”, “ma qủy” (ba thù) luôn hiệp lực tìm cách để bôi nhọ, làm cho mất uy tín và hủy hoại. Chúng nắm trong tay những phương tiện mạnh mẽ và trưng ra trước con người những gì làm thoả mãn “tham, sân, si” và dục vọng con người. Chúng kiên trì gieo những hạt giống dâm ô, trụy lạc, hận thù vào những tâm hồn trẻ thơ và tuổi niên thiếu, và chờ thu hoạch những vụ mùa bội thu. Những lời hứa trống rỗng của chúng đáp ứng được tâm lý hời hợt, ươn ái, thích hưởng thụ của nhiều hạng người, nhất là một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên ngày nay. Bên cạnh đó, một “thương hiệu Kitô giáo” lại chỉ nêu lên thập giá, hy sinh, từ bỏ, kiềm chế, nhưng chính Kitô hữu cũng chẳng mặn mà gì với “hàng hoá” của mình và chẳng những kém cõi trong PR, mà còn làm xấu đi hình ảnh “thương hiệu” của họ, vô tình quảng cáo không công cho ma qủy.
“Thương hiệu Kitô giáo” thuở ban đầu đã làm choáng ngợp mọi người (x. Cv 2, 42 – 47; 4, 32 – 37), là hình mẫu lý tưởng cho “chủ nghĩa cộng sản”. Xây dựng được một thương hiệu đã khó, gìn giữ và phát triển nó còn khó hơn nhiều và thực tế là “thương hiệu Kitô giáo” không phải là một ngoại lệ, khi nó đã bị chính các Kitô hữu qua các thời kỳ làm hoen ố, suy yếu bằng sự ngủ say trên chiến thắng, bằng cuộc sống phản Tin Mừng, đến nỗi Đạo Công giáo chỉ còn được coi ngang hàng với các đạo khác, trong câu người ta trả lời : “Đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành”. Câu trả lời ấy khác nào một lời nói “không”dứt khoát. “Thương hiệu Kitô giáo” vì lỗi chúng ta, đã không còn đủ mạnh, đủ giá trị lấn át các thương hiệu khác, khiến “khách hàng” chẳng cần đắn đo, chọn lựa. Ăn ngay ở lành là mục tiêu phấn đấu của các đạo như Phật giáo, Khổng giáo,…Tu thân tích đức để nên người tốt, là nội dung giáo lý của các đạo. Không ít Kitô hữu cũng nghĩ về Đạo Công giáo như thế! Một sai lầm tai hại, vì ‘ăn ngay ở lành’ không phải là mục tiêu phấn đấu của Kitô hữu. Nó là điều kiện, là một hành trang, vốn liếng khi con người đến với Thiên Chúa. Có thể lấy hình ảnh đi xin việc làm ở một công ty : kỹ năng để được nhận vào phải có sẵn, - ví dụ: vi tính, ngoại ngữ, chuyên môn,…- chứ không phải xin vào học! Với suy nghĩ ấy, Kitô hữu mất dần ý thức bảo vệ và phát triển ‘thương hiệu’ đã được Chúa Giêsu Kitô xây dựng và được các tông đồ, các Kitô hữu qua nhiều thế hệ bảo vệ và phát triển bằng máu tử vì đạo. Còn chúng ta lại đang tâm hủy hoại, đánh mất thương hiệu ấy, cũng có nghĩa là làm cho Đạo Công giáo mất đất sống. Những gì rất nhiều người phải vất vả lâu dài, bằng mồ hôi nước mắt và máu để thêm được một viên gạch nhỏ vào công trình xây dựng Nước Chúa trên trần gian, thì bằng cuộc sống phản Tin Mừng, xấu xa, đồi bại, gương mù gương xấu,- lại ngay từ các linh mục và tu sĩ, thành phần ưu tuyển và lãnh đạo,- như những gì xảy ra trong thời gian qua – đã đem tất cả đổ xuống sông xuống biển.
“Gia tài của mẹ, để lại cho con, gia tài của mẹ”: một Giáo Hội buồn! Mỗi tín hữu Công giáo có phần lỗi trong việc làm lu mờ, hoen ố hình ảnh Giáo Hội. Hãy đừng đỗ lỗi cho ma qủy, thế gian. Hãy đấm ngực mình ăn năn, như lời Đức Thánh Cha kêu gọi. Hãy đứng lên từ những tro tàn với tin tưởng và hy vọng.
TIN MỪNG CHÚA NHẬT XV TN (Nam C)
Lc 10,25-37
CVK Nguyễn Thế Bài
HÃY HÁT LỜI TÌNH YÊU - THÁNH VỊNH 57
CÓ MỘT THIÊN CHÚA XÉT XỬ CÔNG MINH
Nhiệm vụ “xét xử” là sự uỷ thác của Vị Thẩm Phán độc nhất giữa những con người và chỉ có thể là như thế (Ga 19,11). Nói sự ngay thẳng, hiểu rõ sự thật trong một tình thuống nhất định,chính là thấy được đang sử dụng một đặc quyền chủ yếu của Thiên Chúa. Tuy thế, khi quyền bình để cho lạm dụng sức mạnh của mình chống lại điều lành, thì nó làm cho thủ phạm nên lòng chai dạ đá và khiến nó trở nên bất nhân, độc ác. Vì vậy khốn cho ai dùng quyền nầy chống lại người ngay thẳng. Khốn cho ai nhân danh Thiên Chúa nhân từ và công minh,mà đi làm tôi tớ cho gian dối và bất công. Và người ta không được lấy làm lạ, rằng Thiên Chúa, Đấng nhạy bén với tiếng kêu của những người bị áp bức, lắng nghe những lời bị ô nhục nầy, những lời phản đối chống lại những kẻ làm o danh Người. Nếu lời cầu nguyện nầy trở thành lời nguyền rủa,thì là vì nó mang yêu sách đòi lại của người nghèo, vì người ta không nói lên quá cứng rắn những gì sẽ là hình phạt dành cho các quan toà bất xứng,những gì công lý sẽ thực hiện khi nó quay mặt chống lại những kẻ lạm dụng. Hãy nghĩ tới những quan toà xét xử Chúa Giêsu trong trrình thuật Thương Khó. Những người ‘hèn mọn’ phải biết rằng Thiên Chúa mới là Đấng có tiếng nói cuối cùng. Quan toà phải biết điều đó để ăn năn sám hối. Chính cơn giận của Thiên Chúa làm dậy lên tiếng kêu của những kẻ bất hạnh.”Ta sẽ tùy theo việc các ngươi làm, mà thưởng phạt mỗi người” (Kh 2,23)

