Trên đỉnh phù vân!
TIN MỪNG CHÚA NHẬT XVIII TN (Nam C)
Lc 12, 13 - 21
Được lời lãi cả thế gian, mà mất linh hồn,thì nào được ích gì!
Là tựa đề một bài hát được nhạc sĩ Phó-Đức-Phương sáng tác theo làn điệu ca trù, không dính dáng gì đến câu chuyện phù vân mà chúng ta muốn bàn tới, ngoại trừ nó nhắc nhớ về vua Trần Nhân Tông thấy cuộc đời phù vân, đã bỏ ngai vàng và cuộc sống vương đế, để đến núi Yên Tử tu luyện và lập ra môn phái Thiền Trúc Lâm, cùng với truyền thuyết kể rằng ba trăm cung nữ theo hầu nhưng không được vua cho ở cùng nơi đất Phật, nên lâm vào cảnh khó. Về lại Kinh thành không được,mà ở lại cũng không xong, tất cả đã chọn giải pháp trầm mình tự tử. Người ta cũng kể rằng năm trong số ba trăm cung nữ ấy đã được năm chàng trai người Dao cứu và đã nên vợ nên chồng. Không biết trong ông vua thiền sư và các cô cung nữ, ai mới thấy và hiểu cuộc đời là phù vân! Chắc chắn không siêu thoát khảng khái và thoáng đạt như Nguyễn-Công-Trứ, kẻ sĩ “lên voi xuống chó”, nhưng dù ở thân phận nào,cũng vẫn giữ lòng than thản và khí chất người quân tử, cho nên câu cảm thán của ông nghe mới thật sự thấm thía :” cuộc đời như mây nổi, như gió thổi,như chiêm bao”. Cụ Nguyễn-Du, trong bài “Đồ trung ngẫu hứng”(*) cũng đã có những câu :”Thế gian phú quý đẳng phù vân; Bách niên đáo để giai như thị; Hồi thủ mang mang nhất phiến trần" (Chức trọng tiền nhiều mây hợp tan; Kết cục trăm năm đều thế cả; Ngoảnh trông một áng bụi mơ màng).
Cô-he-lét có quá lời chăng,khi nói: "Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân”, câu nói đầy bi quan chán chường của một người vừa gặp một thất bại,một đau thương mất mát hoặc của một người yếm thế. Nhưng hạnh các Thánh cho thấy nhiều trường hợp như vậy : do vấp ngã nặng nề, mà thấy đời phù vân,vô vị và quyết đi theo Chúa. Đó là Thánh Phanxicô Xaviê, đã bị Chúa chinh phục khi nghe Thánh Inhatiô Loyala không ngừng lập lại cho chàng trai qúy tộc và giáo sư trẻ nghe câu Tin Mừng :” Được lời lãi cả thế gian, mà mất linh hồn,thì nào được ích gì”; nhờ đó mà Phanxicô Xaviê trở thành vị thánh truyền giáo lớn nhất trong Giáo Hội. Đó là Thánh Anphongsô Liguôri,lễ kính chính ngày hôm nay,nhưng không mừng vì trùng với phụng vụ phục sinh ngày Chúa Nhật. Cuộc đời một luật sư sáng giá sẽ trôi qua êm đẹp, nếu như Thánh Anphongsô không như một Phaolô ngã ngựa trên đường Damas và rồi Người đã nhận ra tiếng Chúa gọi. Thanh bảo kiếm đặt dưới chân Đức Mẹ chuộc kẻ làm tôi nói lên sự từ bỏ danh vọng, quyền hành, địa vị, chức tước. Thánh Anphongsô đã nhận ra cái phù phiếm của cuộc đời:” Phù vân. Tất cả đều là phù vân” và chọn Chúa làm gia nghiệp cho cuộc đời mình. (trích bài viết LM Giuse Maria Nguyễn Hưng Lợi, DCCT, ngày 22.07.2005). Xin trích dẫn thêm một câu trong bài viết nầy :”Anphongsô đã hiểu thế nào là thất bại. Anphongsô thua kiện để Thiên Chúa được thắng kiện. Đó là cái nghịch lý của cuộc đời mà Anphongsô đang trải qua .Anphongsô đã bỏ tất cả. Giờ đây chỉ còn Chúa và các bệnh nhân”.
Người ta nói nhiều đến hai chữ ‘phù vân’, cảm nhận qua hai chữ nầy sự …phù vân,nhưng cái gì là ‘phù vân’ và làm sao nhận định cái nầy là phù vân, cái kia không phải,thì chưa thấy được câu trả lời rõ ràng,mà chỉ quy lỗi cho thế gian,xác thịt, vật chất. Linh mục SVD Nguyễn-Trung-Tây đã có một bài viết nói về đoạn trong sách Giảng Viên trên đây, mượt mà như một áng thơ, đọc lên thấy tâm hồn phiêu lãng, thấy thế sự thăng trầm thật vô nghĩa : “Phù vân là hơi nước tụ họp gặp mặt nhau trên bầu trời. Từ những dòng sông ngòi cong mình uốn khúc và ngũ đại dương bao la xanh đậm, hơi nước nho nhỏ bốc cao lơ lửng ngập ngừng. Hơi nước của sông gặp gỡ hơi nước của biển. Cả hai cộng lại hóa ra tơ trời. Ngàn vạn sợi tơ của trời đan kết lụa là dệt ra mây trắng lững lờ trôi nổi bồng bềnh. Mây trời nối tiếp mây trời, lang thang nối tiếp lang thang. Mặt trời bình minh phương Đông vươn cao ném tung xuống cõi trần gian hơi nóng. Hơi nóng tỏa nhiệt đốt cháy mây trời, tẩy xóa phù vân. Phù vân biến thành vô thường. Vô thường tiếp nối phù vân. Phù vân nối tiếp vô thường chầm chậm loãng tan biến mất. Có đó rồi mất đó. Mất đó rồi lại hiện ra. Hiện ra rồi lại biến mất, y như hơi nước, y như tơ trời, y như phù vân, y như vô thường, y như cuộc sống nhân sinh thoáng hiện thoáng mất”. Song thú thật, chỉ giống như nghe thuyết pháp về triết lý ‘sắc sắc,không không” của đạo Phật. Đạo Công Giáo không ngừng lại ở suy tư,nhận định về những hợp tan (phù vân) cuộc đời - kể cả như lời của Cô-he-lét trong sách Giảng Viên -, cũng không phải biết chỉ để biết, mà để hành xử thế nào với những cái phù vân ấy theo tinh thần Phúc Âm, biến nó thành những gì mang tính “cứu chuộc” khi hiệp thông với mầu nhiệm cứu độ của Chúa Kitô. ‘Phù vân’, vì thế và nhờ thế, không còn đơn thuần là phù vân, quyến rũ và trói buộc ta vào nó, khiến cho ta tan vào cõi mờ mờ ảo ảo,không nhận ra đâu là thật giả nữa, mà cứ đâm đầu chạy theo những giá trị chóng qua, chóng qua - hợp rồi tan - chứ không phải giả tạo và giả dối. Còn khi không để lòng mê theo những sự chóng qua nầy, không đánh đồng và đánh đổi cuộc sống làm người và làm con Chúa với những giá trị chóng qua nầy, hơn thế nữa, bắt chúng phải phục vụ cho các giá trị vĩnh hằng, thì ‘phù vân’ sẽ thôi là phù vân.
Cuộc sống con người có thể ví như ông nhà giàu có bốn bà vợ. Ba bà được ông chăm sóc,cưng chiều rất mực và hãnh diện khoe khoang. Riêng bà vợ cả hầu như chẳng được ông chú ý tới. Khi lâm trọng bệnh, ông gọi từng bà vợ đến. Cả ba bà đều thẳng thừng từ chối theo ông. Chỉ có bà vợ cả bị ông ruồng rẩy là quyết trung thành với ông.Thấy bà gầy gò xanh xao, ông rưng rưng xúc động: “Đáng lẽ ra trước đây tôi phải chăm sóc bà nhiều hơn”.Mỗi chúng ta ai cũng có 4 bà vợ.Bà vợ thứ tư chính là thân thể của chúng ta. Cho dù ta có chăm chút, trau chuốt đến mấy, rồi nó cũng rời bỏ ta khi ta chết. Còn bà vợ thứ ba ? Đó chính là của cải, địa vị ... Khi chúng ta chết, chúng sẵn sàng đi theo người khác.Bà vợ thứ hai chính là gia đình và bạn bè. Cho dù có thân thiết đến mức độ nào, khi ta chết, họ cũng chỉ khóc đưa ta ra mộ mà thôi. Bà vợ thứ nhất chính là tâm hồn ta, thường bị lãng quên khi ta chạy theo tiền tài, địa vị, danh vọng, của cải, nhưng nó sẽ theo ta suốt cuộc đời (http://phanchautrinhdanang.com).
Một định nghĩa cho ‘phù vân’? Trong các bức hoạ mang tựa hoặc nói về “vanité” (phù vân),như bứcVanité của Juriaen van Streeck, bức Vanité của Pieter van Steenwyck hay bức Vanité về Thánh Phanxicô Atxidi của Luis de Morales,v..v... đều tượng trưng bằng một chiếc đầu lâu. PHÙ VÂN, do vậy, có thể được định hình như sau : con người vào đời trần truồng với hai bàn tay trắng và khi chết sẽ trở về trắng tay,như khi vào đời. Đó là bộ khung mà Đấng Tạo Hoá ban cho mỗi người và mọi người. Những gì không theo chúng ta vào đời và không cùng chúng ta đi vào «cõi vĩnh hằng»,nhưng ngừng lại và chấm dứt khi ta nhắm mắt xuôi tay,là «phù vân». Chúng là những thực tại vật chất và những giá trị đi kèm : danh vọng, tiền tài,tham vọng... Những thực tại nầy, tự chúng không xấu, khi chúng được giữ chặt ở «phận tôi tớ», song sẽ tồi tệ,khi chúng leo lên được địa vị «ông bà chủ»! Còn những giá trị tinh thần mà chúng ta thu góp,tích luỹ trong suốt đời người của mình, trong đó có cả những đau khổ, thì góp phần vào việc xây dựng nhân cách, đạo đức của chúng ta, tạo nên ‘phúc’ hay ‘tội’, giúp ta được sống hạnh phúc đời đời trên thiên đàng hoặc phải trầm luân muôn kiếp trong hoả ngục : những cái nầy không phải là ‘phù vân’. Sự gì theo ta đi vào cõi đời đời – thiên đàng hay hoả ngục – không là phù vân !
Than ôi, trên đỉnh phù vân : con người dường như càng biết những gì là phù vân, càng thấy sự mong manh, trống rỗng, phù du, hợp rồi tan, thì lại càng cuống cuồng lao đầu vào! Như thế mới có những con thiêu thân !
ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI 60
(*) Phục (mùa hạ) và Lạp (mùa đông) là hai tiết mà người ta thường làm lễ tế mồ mả tổ tiên, rót rượu xuống đất để xin phù hộ.
HÃY HÁT LỜI TÌNH YÊU - THÁNH VỊNH 60
TỪ TẬN CÙNG TRÁI ĐẤT…
Đây là một thánh vịnh lưu đày…
“Cách xa Thiên Chúa”, đó là đau khổ lớn lao nhất, nỗi dày vò nặng nề cho một đám đông người,mà người ta đã không dạy cho biết hoặc để cho mù tịt về Danh Thiên Chúa và cùng với Người,tình huynh đệ mà chính Người là nguồn gốc và chỉ có Người mới ban cho “niềm vui và bình an” (Gl 5,22). Trước khối người bị lưu đày không đếm xuể nầy, trách nhiệm của tất cả những người hiểu biết,thật lớn lao. Họ phải hiệp thông nỗi đau của cuộc lưu đày nầy,trong tình huynh đệ,trong lời cầu nguyện của mình, họ phải đem một ý nghĩa đến cho cuộc lưu đày nầy, để nhờ ân sủng của Chúa Kitô, - nơi Người chúng ta nên một,- Thiên Chúa được tôn vinh và để từng chút một,ánh sáng và sự sống mở rộng ơn lành đến với những kẻ bị lưu đày. Phải cầu nguyện nhân danh họ, thay cho họ. Phải nhắc lại với Chúa Cha Tòan Năng, Đức Chúa Kitô Vua chúng ta “trong bửu huyết của Người, chúng ta trước đây vốn rất cách xa, nay đã được đem lại gần…Người đã đến loan báo sự bình an cho những ai đang còn xa cách,như với chúng ta là những kẻ đang ở sát gần.Nhờ Người, chúng ta đến được với Chúa Cha trong cùng một Thần Khí” (Ep 2, 13 – 18)

